SỐT GIẢM BẠCH CẦU HẠT SAU HOÁ TRỊ


1.     Tổng quan

Sốt giảm bạch cầu trung tính là biến chứng nghiêm trọng của hoá trị liệu có thể dẫn đến trì hoãn điều trị hay giảm liều thuốc hoá trị, xảy ra ở bệnh nhân có tình trạng giảm bạch cầu hạt xuất hiện sốt. Các tế bào bạch cầu là hàng rào bảo vệ chính của cơ thể, giúp chống lại nhiễm trùng. Hóa trị giết chết các tế bào phát triển nhanh khắp cơ thể, bao gồm cả tế bào ung thư và tế bào bình thường và nó có thể làm giảm số lượng tế bào bạch cầu trong cơ thể bạn. Có số lượng bạch cầu thấp sẽ làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bạn, dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng.

Giảm bạch cầu trung tính là thường gặp sau khi hóa trị, thường xảy ra từ 7 đến 12 ngày sau khi bạn được điều trị hóa trị.

2.     Các dấu hiệu nhiễm trùng có thể bao gồm:

-       Sốt từ 38°C trở lên

-       Ớn lạnh hoặc đổ mồ hôi

-       Đau họng, lở loét trong miệng, hoặc đau răng

-       Đau bụng

-       Đau gần hậu môn

-       Đau hoặc nóng rát khi đi tiểu, hoặc đi tiểu thường xuyên

-       Tiêu chảy

-       Ho hoặc khó thở

-       Bất kỳ vết đỏ, sưng hoặc đau (xung quanh vết cắt, vết thương hoặc ống thông)Tiết dịch âm đạo bất thường hoặc ngứa



3.     Phân nhóm nguy cơ giảm bạch cầu trung tính: 

Trước khi bắt đầu hóa trị, bạn sẽ được xếp vào nhóm nguy cơ giảm bạch cầu dựa trên các yếu tố cụ thể của bạn. 

Nguy cơ giảm bạch cầu do sốt của bạn sẽ dựa trên những yếu tố sau:

-       Loại ung thư hoặc bệnh nền của bạn

-       Loại hóa trị được lên kế hoạch điều trị

-       Nếu bạn có các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác

-       Mục tiêu điều trị 

Sau khi nguy cơ của bạn được xác định, bạn sẽ được xếp vào một trong các nhóm nguy cơ sau:

-       Thấp

-       Trung bình

-       Cao

4.     Điều trị:

Bạn có thể được sử dụng thuốc kích thích bạch cầu (GCSF) gồm:

-       Filgrastim (Neupogen®) và thuốc tương tự sinh học

-       Tbo-filgrastim (Granix®)

-       Pegfilgrastim (Neulasta®) và thuốc tương tự sinh học

a.     Nguy cơ thấp

-       Nếu bạn không có bất kỳ triệu chứng nào và không có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng nào khác, thì bạn có ít nguy cơ bị sốt giảm bạch cầu. Dự phòng là không cần thiết.

-       Bạn sẽ được đánh giá lại tình trạng giảm bạch cầu sau chu kỳ hóa trị đầu tiên. Nếu nguy cơ của bạn không thay đổi sau lần đầu hóa trị, bạn sẽ được đánh giá tình trạng giảm bạch cầu sau mỗi chu kì hoá trị

b.     Nguy cơ trung bình

Nếu bạn có nguy cơ trung bình sốt giảm bạch cầu trung tính, có nghĩa là bạn có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau:

-       Hóa trị hoặc xạ trị trước đó

-       Giảm bạch cầu trung tính dai dẳng

-       U ảnh hưởng đến tủy xương

-       Mới phẫu thuật và/hoặc có vết thương hở

-       Suy gan

-       Suy thận

-       Trên 65 tuổi 

-       Cường độ điều trị hóa trị 

-       Một yếu tố nguy cơ khác có thể bao gồm HIV

Nếu bạn có một hoặc nhiều yếu tố rủi ro, thì bạn có thể được xem xét điều trị với G-CSF. 

c.     Nguy cơ cao

Nếu bạn có nguy cơ cao, bạn có hơn 20 phần trăm (20%) nguy cơ sốt giảm bạch cầu hạt. Có chỉ định dùng GCSF dự phòng.

5.     Kết luận

-       Các tế bào bạch cầu là hàng rào bảo vệ chính của cơ thể chống lại nhiễm trùng.

-       Khi giảm bạch cầu trung tính kết hợp với sốt, nó được gọi là sốt giảm bạch cầu trung tính.

-       Tình trạng giảm bạch cầu trung tính thường xảy ra sau khi được hóa trị và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.

-       Bạn sẽ được đánh giá về nguy cơ sốt giảm bạch cầu trước và trong suốt quá trình điều trị hóa trị.

-       Trước khi bắt đầu hóa trị, bạn sẽ được xếp vào nhóm nguy cơ dựa trên các yếu tố cụ thể.

-       G-CSFs được sử dụng để tăng số lượng bạch cầu trung tính và giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.

ThS. BS. Nguyễn Trần Hương Giang 

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn