DINH DƯỠNG TRONG BỆNH LÝ THIẾU MÁU




1.
    Thiếu máu là gì?

Thiếu máu được định nghĩa là tình trạng giảm lượng tế bào hồng cầu, hình thái tế bào hồng cầu bất thường hoặc lượng hemoglobin trong hồng cầu không đủ dẫn đến không cung cấp đủ oxy cho cơ thể. Nó là kết quả của việc giảm sản xuất hồng cầu (tạo hồng cầu), tăng phá hủy, mất máu hoặc sự kết hợp của các yếu tố này.

Thiếu máu gây triệu chứng mệt mỏi trong giai đoạn đầu của bệnh, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lao động do suy nhược, mất năng lượng và chóng mặt. Thiếu máu cũng có tác động quan trọng đến phát triển kinh tế và xã hội do mất năng suất lao động. Ngoài ra, Thiếu máu ở mẹ có thể dẫn đến mất máu nhiều hơn trong khi sinh, tăng nguy cơ băng huyết sau sinh và tử vong ở mẹ. Những bà mẹ thiếu máu có nguy cơ sinh non và sinh con nhẹ cân hơn. Thiếu máu còn tác động tiêu cực đến sự phát triển nhận thức và vận động của trẻ, thiếu máu nặng làm tăng nguy cơ tử vong ở trẻ.

Theo tổ chức y tế thể giới (WHO) năm 2017 phân loại: thiếu máu do dinh dưỡng và không do dinh dưỡng. Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của thiếu máu là do thiếu sắt, chiếm khoảng 50% tổng số các trường hợp thiếu máu.

2.    Thiếu máu thiếu sắt

a.    Nhu cầu sắt bình thường

Trong thời kỳ sơ sinh, sắt được bổ sung nhờ lượng sắt ít ỏi có trong sữa mẹ. Nhu cầu về sắt tăng lên rõ rệt từ 4-6 tháng sau khi sinh và lên tới khoảng 0,7- 0,9 mg/ngày trong thời gian còn lại của năm đầu tiên. Từ 1 đến 6 tuổi, hàm lượng sắt trong cơ thể lại tăng gấp đôi.

 Nhu cầu sắt cũng rất cao ở thanh thiếu niên, đặc biệt là trong giai đoạn tăng trưởng vượt bậc. Các bé gái thường có sự phát triển vượt bậc trước khi có chu kỳ kinh nguyệt. Trong giai đoạn này, nhu cầu sắt tăng lên cao hơn mức nhu cầu sắt trung bình ở phụ nữ có kinh. Ở trẻ em trai có sự gia tăng rõ rệt về khối lượng và nồng độ hemoglobin ở tuổi dậy thì. Người lớn trung bình dự trữ khoảng 1-3 g sắt trong cơ thể. Sự cân bằng tốt giữa quá trình hấp thu và mất đi trong chế độ ăn uống sẽ duy trì sự cân bằng này. Khoảng 1 mg sắt bị mất mỗi ngày do bong tróc các tế bào từ bề mặt da và niêm mạc, bao gồm cả lớp niêm mạc của đường tiêu hóa. Kinh nguyệt làm tăng lượng sắt mất trung bình hàng ngày lên khoảng 2 mg mỗi ngày ở phụ nữ tiền mãn kinh.

Chế độ ăn uống bổ sung sắt là cần thiết để thay thế lượng sắt bị mất trong phân và nước tiểu cũng như qua da, tương đương 0,9 mg sắt đối với nam giới trưởng thành và 0,8 mg đối với nữ giới trưởng thành. Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần chú ý tới lượng sắt bị mất trong máu kinh. Trong thời kỳ mang thai, nhu cầu sắt tăng lên đáng kể do sự phát triển nhanh chóng của nhau thai, thai nhi và sự giãn nở của tử cung. Ngược lại, nam giới trưởng thành và phụ nữ mãn kinh có nguy cơ thiếu sắt thấp và lượng sắt trong chế độ ăn bình thường thường đủ để đáp ứng nhu cầu sinh lý của họ.

b.    Chế độ dinh dưỡng giàu chất sắt

Khi các nhu cầu sinh lý không thể được đáp ứng bằng cách hấp thu sắt từ chế độ ăn sẽ dẫn tới thiếu sắt do dinh dưỡng. Độ khả dụng sinh học của sắt trong chế độ ăn thấp ở những dân số chỉ ăn chế độ ăn có thực vật, ít thịt. Ở nhiều nước đang phát triển, thức ăn dặm có nguồn gốc thực vật hiếm khi được bổ sung sắt và tần suất thiếu máu là hơn 50% ở trẻ em dưới 4 tuổi.

Một nguồn sắt tốt là nguồn sắt chứa một lượng sắt đáng kể liên quan tới hàm lượng calo của nó và đóng góp ít nhất 10% lượng sắt được khuyến nghị trong chế độ ăn kiêng (RDA). Gan, thận, thịt bò, trái cây sấy, đậu Hà Lan khô, quả hạnh nhân, rau lá màu xanh đậm và bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, bánh nướng xốp, ngũ cốc và thanh dinh dưỡng là một trong những thực phẩm có hàm lượng sắt cao nhất. Người ta ước tính rằng cần cung cấp 1,8 mg sắt hàng ngày để đáp ứng nhu cầu từ 80% đến 90% ở phụ nữ trưởng thành, trẻ em trai và trẻ em gái vị thành niên.

 Sắt dạng heme (có thể hấp thu 15%) hấp thu tốt hơn nhiều so với sắt nonheme (thay đổi từ 3% đến 8%). Các nguồn thực phẩm giàu chất sắt heme nhất là: hàu, gan, thịt nạc đỏ (đặc biệt là thịt bò), thịt gia cầm (thịt đỏ sẫm), cá ngừ và cá hồi. Các nguồn ít phong phú hơn là thịt cừu, thịt lợn, động vật có vỏ và trứng (đặc biệt là lòng đỏ).

Cơ thể khó hấp thu dạng sắt nonhem. Các nguồn cung cấp chất sắt nonheme là: ngũ cốc tăng cường chất sắt, đậu khô, ngũ cốc nguyên hạt (lúa mì, kê, yến mạch, gạo lứt), các loại đậu (đậu lima, đậu nành, đậu khô và đậu Hà Lan, đậu tây), các loại hạt (hạnh nhân, các loại hạt Brazil), trái cây sấy khô (đặc biệt là mận khô, nho khô, mơ), rau xanh (bông cải xanh, rau cải bó xôi, cải xoăn, cải thìa, măng tây, rau bồ công anh)

Sữa mẹ chứa một dạng sắt có giá trị sinh học cao được hấp thu tốt bởi trẻ sơ sinh, nhưng lượng không đủ để đáp ứng nhu cầu của trẻ sơ sinh từ 4 đến 6 tháng tuổi, vì vậy nên cung cấp nguồn thực phẩm chứa sắt (thường là ngũ cốc dành cho trẻ sơ sinh) cho trẻ nhũ nhi lớn.

Các thực phẩm tăng cường hấp thu sắt bao gồm vitamin C, thịt, cá, và gia cầm. Vitamin C không chỉ là một chất khử mạnh, mà còn liên kết với sắt để tạo thành một phức hợp dễ hấp thu hơn. Ngược lại, sự hấp thu sắt có thể bị ức chế ở các mức độ khác nhau bởi các yếu tố như acid oxalic tìm thấy trong rau bó xôi và chocolate, acid phytic trong cám lúa mì và các loại đậu, tanin trong trà đen và trà bạch tuyết (Trung Quốc), polyphenols trong cà phê, các chất cung cấp calci cacbonate. Các yếu tố trong chất xơ thực vật có thể ức chế sự hấp thu sắt nonheme. Nếu uống trà và cà phê trong bữa ăn có thể làm giảm hấp thụ sắt 50% thông qua sự hình thành phức hợp sắt không hòa tan với tanin. Sắt trong lòng đỏ trứng hấp thu kém vì sự hiện diện của phosvitin.

Do đó, nguồn cung cấp sắt trong chế độ ăn uống được tìm thấy trong thịt, ngũ cốc, trái cây và rau. Đối với những người không ăn thịt, các nguồn thực vật giàu chất sắt bao gồm bánh mì hoặc ngũ cốc nguyên hạt, ngũ cốc tăng cường chất sắt, các loại đậu, rau lá xanh, trái cây sấy khô, các sản phẩm từ đậu nành, mật đường đen và mầm lúa mì. Để tối đa hóa sự hấp thụ, thực phẩm giàu sắt không nên được sử dụng chung với cà phê hoặc trà. Uống vitamin C hoặc uống nước cam cùng lúc với thực phẩm nhiều sắt có thể giúp tăng cường hấp thu sắt.

    Một số tip để tăng hấp thu sắt:

˗       Nên bao gồm sắt hem và sắt nonhem trong chế độ ăn

˗       Bao gồm thực phẩm giàu vitamin C trong bữa ăn

˗       Uống cà phê và trà giữa các bữa ăn thay vì trong bữa ăn

˗       Nấu thức ăn có tính acid trong nồi gang, điều này có thể làm tăng hàm lượng sắt trong thực phẩm lên 30 lần


3.    Thiếu vitamin B12

Vitamin B12 còn được gọi là cobalamin (Cbl) là vitamin nhóm B tan trong nước cần thiết cho sự tổng hợp các tế bào hồng cầu, duy trì hệ thần kinh, tổng hợp DNA và sự tăng trưởng..

Thiếu Vitamin B12 và folate gây ra bệnh thiếu máu nguyên bào khổng lồ. Bệnh thiếu máu nguyên bào khổng lồ là thuật ngữ dùng để chỉ bệnh thiếu máu trong đó quá trình chuyển hóa acid nucleic bị suy giảm dẫn tới không đồng nhất giữa nhân và nguyên sinh chất, giảm số lượng phân chia tế bào trong tủy xương và bất thường nhân ở cả tiền thân dòng tủy và dòng hồng cầu. Thiếu folate sẽ biểu hiện sau 2-4 tháng ở những người ăn chế độ ăn thiếu folate, trong khi thiếu B12 chỉ diễn ra sau một vài năm ăn chế độ thiếu B12.

Sự hấp thu vitamin B12 đòi hỏi sự hiện diện của axit clohydric (HCL) và protease dạ dày, giúp giải phóng B12 ra khỏi protein gắn kết, sau đó kết hợp với yếu tố nội tại (IF) hình thành phức hợp B12-IF (IF được tiết bởi các tế bào thành của dạ dày), phức hợp này tiếp tục đi xuống đường tiêu hóa và được hấp thu ở hồi tràng đoạn xa. Dạ dày tiết HCL giảm dần theo tuổi, do đó bổ sung B12 dưới dạng tự do, không gắn kết với protein có vai trò phòng ngừa và điều trị thiếu B12. Tổng lượng B12 tích trữ ở người lớn khoảng từ 2 tới 5 mg và 80% được tích trữ ở gan.

Có giả thiết cho rằng nồng độ cao của Homocysteine có thể gây phá hủy động mạch vành hoặc làm cho các yếu tố đông máu dễ kết hợp với nhau và hình thành cục máu đông. Điều này có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Vitamin B12 cùng với folate, vitamin B6 giúp làm giảm Homocysteine trong máu.

Vitamin B12 được tìm thấy chủ yếu trong thực phẩm động vật như cá, thịt, gia cầm, trứng và các sản phẩm từ sữa, nồng độ cao nhất ở con trai và gan. Tuy nhiên, nó cũng được tổng hợp bởi vi khuẩn và đã có nhiều nghiên cứu về các nguồn cung cấp vitamin B12 từ thực vật như các sản phẩm đậu nành lên men, rong biển và tảo (tảo xoắn). Tuy nhiên, hiện tại có sự đồng thuận là bất kỳ B12 nào có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật đều có khả năng không có sẵn cho con người, do đó B12 từ nguồn gốc thực vật không phải là một nguồn an toàn. Theo thông tin từ viện y tế quốc gia (NIH), lượng vitamin B12 được khuyến nghị hàng ngày dao động từ 0.4 mcg mỗi ngày ở trẻ nhỏ đến 2.4 mcg mỗi ngày ở người lớn và nhu cầu cao hơn trong thời kì mang thai và cho con bú. Một chế độ ăn bình thường sẽ chứa đủ vitamin B12, tuy nhiên đối với những trường hợp ăn chay hoặc ăn chay trường sẽ thiếu và cần bổ sung thêm vitamin B12.

Chế độ ăn phòng ngừa thiếu vitamin B12

Các sản phẩm từ sữa

Đối với những người ăn chay, các sản phẩm từ sữa như sữa bơ, sữa chua và sữa đậu nành tăng cường là những lựa chọn tốt để cung cấp vitamin B12. Những thực phẩm này luôn sẵn có và có thể được tiêu thụ bất cứ lúc nào trong ngày.

Trứng

Có thể bổ sung vitamin B12 bằng cách thêm trứng vào chế độ ăn uống. Ăn trứng luộc trong bữa sáng hoặc dưới dạng salad trong bữa trưa hoặc bữa tối là một cách tốt để đảm bảo lượng vitamin B12 được cung cấp đều đặn. Bạn thậm chí có thể thêm trứng vào súp và món xào để nâng cao giá trị dinh dưỡng của chúng.

Cá ngừ

Ngoài việc cung cấp omega-3 và protein, cá ngừ chứa hàm lượng vitamin B12 đáng kể. Thêm nó vào chế độ ăn uống hàng ngày của bạn và kết hợp nó với trứng trong các món ăn ngon khác nhau là một cách khả thi để có được những lợi ích của nó.

Tôm

Tôm không chỉ chứa nhiều chất dinh dưỡng choline, giúp tăng cường sức khỏe của tim và não, mà còn là một nguồn cung cấp protein nạc và vitamin B12 tuyệt vời. Bạn có thể kết hợp chúng với rau trộn nướng hoặc trong món salad.

Ngũ cốc

Ngày nay, nhiều loại ngũ cốc làm từ cám và yến mạch nguyên cám được bổ sung thêm vitamin B12. Những loại ngũ cốc tăng cường này có thể bổ sung vitamin B12 hàng ngày. Kết hợp chúng với sữa để tăng chỉ số dinh dưỡng trong bữa ăn.

Thịt gà

Trong số các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật, thịt gà là nguồn cung cấp vitamin B12 quan trọng. Cũng là một nguồn cung cấp protein nạc, thêm thịt gà vào chế độ ăn uống của bạn là một cách khác để đảm bảo rằng cơ thể bạn không bị thiếu dinh dưỡng.

 

4.    Thiếu Folate

Folate (còn gọi là vitamin B9 hoặc pteroylglutamic acid) hiện diện trong nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật và động vật, đặc biệt các loại rau lá xanh đậm và gan. Các folate có trong tự nhiên bao gồm một số hợp chất polyglutamated. Chúng hầu hết ở dạng khử, chẳng hạn như 5-methyltetrahydrofolate (5-methyl-THF) hoặc f-formyltetrahydrofolate (còn gọi là axit folinic, là thuốc hoạt động trong leucovorin). Axit folic là thuật ngữ dùng để chỉ dạng vitamin tổng hợp hóa học, được sử dụng trong thực phẩm chức năng và thực phẩm tăng cường, axit folic là một monoglutamat bị oxy hóa, ổn định hơn về mặt hóa học so với folate có nguồn gốc từ thực phẩm.

Theo NIH, lượng folate được khuyến nghị hàng ngày dao động từ 65 mcg (tương đương folate trong chế độ ăn uống ở trẻ sơ sinh) đến 400 mcg tương đương folate trong chế độ ăn uống ở người lớn, và cần nhu cầu cao hơn trong thời kỳ mang thai và cho con bú (600 và 500 mcg). Kể từ cuối những năm 1990 hoặc đầu những năm 2000, nhiều quốc gia đã bắt đầu bổ sung ngũ cốc, bột và các loại hạt, chủ yếu nhằm mục đích giảm nguy cơ dị tật ống thần kinh trong quá trình hình thành phôi vì thiếu acid folic ở giai đoạn sớm thai kì có thể dẫn tới khuyết tật ống thần kinh ở trẻ.

Những nhóm đối tượng có nguy cơ thiếu Folate như: những người lạm dụng rượu thường có chế độ ăn không đủ folate. Hơn thế nữa rượu ảnh hưởng tới việc hấp thu folate, tăng phá hủy folate và làm tăng bài tiết folate qua thận; Phụ nữ trọng độ tuổi sinh đẻ; Phụ nữ mang thai và những bệnh nhân bị rối loạn hấp thu (bệnh celiac, bệnh viêm ruột…)…

Folate tự nhiên có trong nhiều loại thực phẩm, bao gồm rau (đặc biệt là rau lá xanh đậm), trái cây và nước ép trái cây, các loại hạt, đậu, đậu Hà Lan, hải sản, trứng, các sản phẩm từ sữa, thịt, gia cầm và ngũ cốc. Rau cải bó xôi, gan, măng tây và cải brussel là một trong những thực phẩm có hàm lượng folate cao nhất. Đặc biệt, vì folate có thể dễ dàng bị phá hủy bởi nhiệt nên trái cây và rau tươi, chưa nấu chín là nguồn cung cấp tốt folate.

Chú ý: không nấu thực phẩm quá chín. Hấp, xào, hoặc cho rau vào lò vi sóng để ngăn mất acid folic

 


5.    Thiếu máu do suy dinh dưỡng protein năng lượng

Suy dinh dưỡng protein-năng lượng không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng.

Protein cần thiết cho việc sản xuất hemoglobin và hồng cầu. Trong những trường hợp suy dinh dưỡng protein năng lượng, khối lượng tế bào giảm và do đó nhu cầu oxy cần ít hơn. Tế bào hồng cầu có vai trò cung cấp oxy cho mô. Lượng máu không thay đổi, số lượng hồng cầu giảm cùng với mức hemoglobin thấp (thiếu máu đẳng bào, nhược sắc), có thể bắt chước thiếu máu do thiếu sắt. Nó là một chứng thiếu máu sinh lý (không gây hại) hơn là bệnh lý. Trong suy dinh dưỡng protein năng lượng cấp tính, sự mất khối lượng mô có thể lớn hơn sự giảm số lượng hồng cầu, dẫn đến bệnh đa hồng cầu (tăng hồng cầu trong một thể tích máu). Do đó, sắt được giải phóng từ sự vỡ hồng cầu bình thường không được tái sử dụng để tạo hồng cầu mới mà tích trữ trong các cơ quan dự trữ, nên dự trữ sắt thường bình thường. Thiếu sắt sẽ xuất hiện trong giai đoạn hồi phục lúc số lượng hồng cầu tăng lên nhanh. Chế độ ăn thiếu protein thường thiếu sắt, axit folic và hiếm gặp hơn là vitamin B12.

6.    Thiếu máu do thiếu đồng

Đồng và các kim loại nặng khác cần thiết cho sự hình thành hemoglobin. Ceruloplasmin là một protein chứa đồng cần thiết cho sự huy động bình thường của sắt từ vị trí tích trữ của nó vào huyết tương. Trong tình trạng thiếu đồng, sắt không được giải phóng, dẫn tới giảm sắt và nồng độ hemoglobin trong huyết thanh, trong khi dự trữ sắt là bình thường. Ngoài ra, các protein đồng cần thiết cho việc sử dụng sắt của hồng cầu đang trưởng thành và chức năng tối ưu của màng hồng cầu. Tổng lượng đồng cần thiết cho quá trình tổng hợp hemoglobin bình thường là rất nhỏ, do đó với một chế độ ăn uống đầy đủ sẽ đáp ứng được lượng đồng này. Tuy nhiên, tình trạng thiếu đồng có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh được nuôi sữa bò hoặc sữa công thức thiếu đồng. Nó cũng có thể gặp ở trẻ em hoặc người lớn có hội chứng kém hấp thu hoặc những người sử dụng dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch toàn bộ kéo dài mà không bổ sung đồng.

Trong chế độ ăn uống phương Tây, khoảng 60% đồng trong chế độ ăn uống đến từ các sản phẩm thực vật, với rau, ngũ cốc và đậu (Các hạt họ đậu như đậu, đậu Hà Lan và đậu lăng), mỗi loại cung cấp khoảng 20%, 20% nữa đến từ thịt, cá và gia cầm. Hàm lượng đồng cao nhất được tìm thấy trong gan (20 đến 180 mg / kg so với 1 đến 2,6 mg/kg trong bánh mì trắng và 0,02 đến 0,08 mg/kg trong sữa bò). Theo Điều tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia lần thứ ba, lượng đồng trung bình trong khẩu phần ăn hàng ngày của người lớn ở Hoa Kỳ là 1 đến 1,6 mg. Sự hấp thu đồng có thể bị giảm nếu chế độ ăn chứa sắt, kẽm hoặc axit ascorbic.

Đồng được tìm thấy với nồng độ cao trong gan, não, xương và ở mức độ thấp hơn ở thận, tim và tuyến tụy. Tổng hàm lượng đồng trong cơ thể con người được ước tính là khoảng 12 mg đối với trẻ sơ sinh và 50 đến 120 mg đối với người lớn. Sữa mẹ chứa tương đối ít đồng. Trong giai đoạn đầu cho con bú, sữa mẹ chứa tới 0,7 mg/L đồng, nhưng con số này nhanh chóng giảm xuống còn 0,2 mg/L và có thể cung cấp ít hơn lượng đồng khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Trong giai đoạn này, bất kỳ sự thiếu hụt nào về lượng đồng đều có thể được đáp ứng bằng cách huy động các kho dự trữ đồng trong gan.

                                                                                                                  Ths.Bs Cao Thị Lộc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Abbaspour Nazanin, Hurrell Richard,  Kelishadi Roya (2014), "Review on iron and its importance for human health". Journal of research in medical sciences : the official journal of Isfahan University of Medical Sciences,  19  (2), pp. 164-174.

2. da Silva Lopes Katharina, Takemoto Yo, Garcia‐Casal Maria N,  Ota Erika (2018), "Nutrition‐specific interventions for preventing and controlling anaemia throughout the life cycle: an overview of systematic reviews". The Cochrane Database of Systematic Reviews,  2018  (8).

3. L. Kathleen Mahan, Janice L Raymond (2017), “Krause's Food & the Nutrition Care Process”, p 631-636.

 

 

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn